Liên kết web
Công báo Bạc Liêu
Người dân hỏi CQ Chức năng trả lời
Hướng dẫn thủ tục hành chính
Góp ý website
Liên hệ
Thăm dò
Thống kê truy cập

null LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH ĐỐI VỚI SÁNG TÁC VÀ TIẾP NHẬN NGHỆ THUẬT

Liên hiệp hội
Thứ ba, 21/12/2021, 08:51
Màu chữ Cỡ chữ
LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH ĐỐI VỚI SÁNG TÁC VÀ TIẾP NHẬN NGHỆ THUẬT

1. Tác phẩm nghệ thuật được sáng tác là nhằm để thưởng thức và tiếp nhận. Đó là một quy luật tất yếu của đời sống nghệ thuật. Tuy nhiên một thời gian dài trên một số ấn phẩm nghệ thuật, lĩnh vực lý luận, phê bình văn học nghệ thuật ở Bạc Liêu hầu như bị bỏ ngõ, làm cho tác phẩm nghệ thuật chỉ diễn ra một chiều (chỉ có sản xuất chứ không có tiêu dùng). Dưới đây, với tư cách cá nhân chủ quan, người viết xin góp bàn ngắn gọn mấy vấn đề vừa nêu để tác phẩm “văn hóa nghệ thuật” tỉnh nhà không ngừng đổi mới và phát triển.

1.1. Trước hết là vai trò của lý luận nghệ thuật (nghệ thuật gồm nhiều loại hình khác nhau: hội họa, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh…, ở đây chỉ bàn về vấn đề chung nhất, không đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể), đó là hệ thống các nguyên tắc về tư tưởng, nghệ thuật định hướng quá trình sáng tác và đón nhận nghệ thuật. Thiếu điều này, đời sống nghệ thuật sẽ rơi vào tình huống “thấy rừng mà không thấy cây”, đứng trước mênh mông sông nước mà không biết trôi dạt về đâu

“Thuyền bơi có lái qua mưa gió                   

Không lái thuyền trôi dạt bến bờ”

(Tố Hữu)

Lý luận nghệ thuật bao giờ cũng gắn với đặc trưng của từng loại thể, thể loại và hình thức thể loại cụ thể, nó đã được nói rõ trong quá trình lý luận chuyên ngành tại các trường Cao đẳng, Đại học dùng đào tạo sinh viên với một nghề cụ thể khi ra trường. Điều này xin không nhắc lại ở đây mà chỉ trao đổi mấy vấn đề lý luận nghệ thuật dưới ánh sáng đường lối văn hóa, nghệ thuật của Đảng, đã được cụ thể hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh và được các nhà lý luận, các chuyên gia hệ thống hóa thành những luận điểm cơ bản sau đây:

- Văn nghệ là mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm nghệ thuật là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.

Tư tưởng này của Bác nói cách đây đúng 70 năm, xin được trích lại nguyên văn:

“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm lại là phải đặt vấn đề lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. (Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951 – Hồ Chí Minh “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận”, Nhà xuất bản văn học Hà Nội – 1981, trang 349).

Quan điểm này của Người đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp ngày càng đông đảo văn nghệ sĩ vào một mặt trận, làm cho họ trở thành những chiến sĩ chiến đấu bằng vũ khí sắc bén của mình theo tinh thần:

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

- Văn nghệ phải gắn với đời sống thực tiễn của nhân dân. Chỉ có thực tiễn đời sống nhân dân mới đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghệ. Văn nghệ vừa phản ánh thực tiễn ấy vừa hướng cho nhân dân thúc đẩy sự phát triển thực tiễn theo quy luật của cái đẹp.

- Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và dân tộc. Phải phản ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, ngày 01/12/1962, Bác đã nói với văn nghệ sĩ: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta”. Ở đây cần làm rõ hai điểm mà Bác rất chú ý đối với văn nghệ sĩ.

Một là, tác phẩm phải phục vụ quần chúng nhân dân đông đảo, được quần chúng yêu thích, đem lại những chuyển biến tích cực trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mọi người.

Hai là, văn nghệ phục vụ quần chúng không có nghĩa là hạ thấp nghệ thuật, không phải là cung cấp cho họ những sản phẩm “loại hai”, những món ăn tinh thần được chế biến vội vàng, mà phải là tác phẩm có tính nghệ thuật cao.

Ngày nay, đọc lại những tư tưởng và nghệ thuật trên đây của Bác ta thấy nó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới của đất nước hôm nay, trong đó có sự nghiệp văn học nghệ thuật.

1.2. Còn đối với phê bình nghệ thuật tưởng đơn giản nhưng lại là mảnh đất “lắm người nhiều ma” của giới nghệ sĩ và nhà phê bình. Bởi vì ở đâu có sáng tạo nghệ thuật thì ở đó có hoạt động tiếp nhận, giống như có sản xuất tất có sự tiêu dùng sản phẩm. Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại tiếp nhận nghệ thuật nào cũng có thể gọi là phê bình. Người tiếp nhận nghệ thuật chỉ thực sự trở thành nhà phê bình khi hoạt động nghề nghiệp của anh ta là nhân tố tác động tích cực vào quá trình sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật. Sự tác động này thể hiện trên các bình diện sau:

- Phê bình tác động tới sự thụ cảm thế giới của nghệ sĩ, gợi mở hệ thống đề tài, đặt ra những vấn đề triết lý nhân sinh - xã hội bức thiết. Đôi khi mối quan hệ này cũng xảy ra những ý kiến rất cực đoan: nghệ sĩ thì cho nhà phê bình là loại “nhà văn không thành đạt”, là “kẻ không thể trở thành nhà văn”; “khi những kẻ ngu ngốc xét đoán những người thông thái thì gọi là phê bình”. Ngược lại, nhiều nhà phê bình gọi nhà văn là “loại người không bao giờ lớn, đủ khôn để có thể xét đoán theo kiểu phê bình”,…

Vậy thực chất của phê bình là gì? Đó là tạo nên sự giám sát của xã hội đối với hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ. Xem những cuộc luận chiến gần đây trên các phương tiện truyền thông sẽ rõ.

- Phê bình có ảnh hưởng tới quá trình sáng tạo ra tác phẩm. Bởi vì, khi phân tích tác phẩm, phê bình thường quan tâm đến phương diện tâm lý sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cũng không bỏ qua các vấn đề…(?) kỹ thuật sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật.

- Phê bình còn tác động trực tiếp tới tác phẩm, mang lại cho tác phẩm một số phận lịch sử, làm cho các kiệt tác không ngừng lớn lên cùng với thời gian. (Ví dụ: Thề non nước của Tản Đà, Đêm tàn của Chế Lan Viên, Tràng giang của Huy Cận,…).

- Phê bình có tác động giáo dục đối với người đọc. Mỗi nhà phê bình là một cây bút chính luận, vừa có tư tưởng vững vàng vừa biết cách tạo ra sự “lây lan”, tuyên truyền cho người đọc, người nghe, người xem… những quan điểm ấy.

- Cuối cùng phê bình có tác động đối với hiện thực đời sống.

2. Văn học và nhà trường - món nợ đối với thế hệ trẻ học đường.

2.1. Tính chất và vị trí môn Ngữ văn đã được Bộ GD-ĐT xác định cụ thể trong chường trình giáo dục phổ thông mới đang thực hiện ở cả 3 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ngoài những kỹ năng đọc, viết, nghe, nói, nó còn giúp hình thành ở học sinh năng lực tinh thần và nhân cách sống. Khả năng của môn Ngữ văn xuất phát từ tính chất và đặc trưng của môn học quy định.

- Trước hết, văn gắn với ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, phổ biến nhất, là hình thức phức tạp nhất của tư duy, của tồn tại. Dạy văn bao gồm cả dạy tiếng và dạy văn học, là công cụ hết sức quan trọng để phát triển năng lực giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói) từ đó phát triển năng lực tác dụng của học sinh.

- Thứ hai, môn văn là nơi bảo tồn, chứa đựng tập trung nhất kinh nghiệm sống và các giá trị chân lý và sự tìm kiếm chân lý, đạo lý và sự trăn trở lương tâm, cái đẹp và tình yêu cái đẹp.

2.2. Mục tiêu quan trọng nhất của môn Ngữ văn trong nhà trường là phát triển năng lực văn ở học sinh, đó là kỹ năng và năng lực tư duy qua môn học.

- Dạy văn trước hết là dạy kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó đọc và viết là quan trọng nhất.

- Năng lực cảm nhận thế giới thông qua các giác quan thẩm mỹ cũng là phẩm chất quan trọng cần bồi dưỡng cho người đọc, người học.

- Phát triển năng lực văn chương cũng là phát triển năng lực người, tức vấn đề về giá trị, vấn đề làm người.

Trên đây là mấy vấn đề cơ bản của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện hành ở 3 cấp học. Nắm được tinh thần cơ bản này để xác lập mối quan hệ của các hoạt động văn học nghệ thuật của Liên hiệp Hội VHNT nói chung và Chi hội Văn học nói riêng. Với nhà trường phổ thông thời gian tới là yêu cầu tất yếu của hai lĩnh vực này. Trong khuôn khổ bài viết và hiểu biết còn hạn hẹp, người viết xin đề xuất mấy giải pháp sau:

- Mở các cuộc thi sáng tác theo chủ đề các ngày lễ lớn, các sự kiện, các ngày kỷ niệm trong năm để mọi người cùng tham gia. Khi sản phẩm dự thi được phổ biến rộng rãi sẽ có một lực lượng công chúng phong phú, đa dạng và nguồn dư luận (qua trang lý luận, phê bình) vô cùng hấp dẫn.

- Tổ chức các cuộc thi bình văn, thơ, các tác phẩm trong nhà trường để kích thích hứng thú văn học của học sinh nhằm góp phần khắc phục tình trạng chán học môn Ngữ văn ở các em.

Thứ hai là xem xét, nghiên cứu tham mưu lãnh đạo cấp trên nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý Liên hiệp các Hội VHNT phối hợp với Báo Bạc Liêu, Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Bạc Liêu và ngành giáo dục xuất bản phụ chương “Văn học và nhà trường” tạo sân chơi bổ ích làm cho đời sống văn học tỉnh nhà thêm phong phú, lành mạnh, đem lại giá trị nhân văn trong môi trường giáo dục.

3. Từ những điều trao đổi trên đây, thiết nghĩ thời gian tới cần đổi mới nội dung, hình thức và cấu trúc của tạp chí nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân tỉnh nhà dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

1. Tác phẩm nghệ thuật được sáng tác là nhằm để thưởng thức và tiếp nhận. Đó là một quy luật tất yếu của đời sống nghệ thuật. Tuy nhiên một thời gian dài trên một số ấn phẩm nghệ thuật, lĩnh vực lý luận, phê bình văn học nghệ thuật ở Bạc Liêu hầu như bị bỏ ngõ, làm cho tác phẩm nghệ thuật chỉ diễn ra một chiều (chỉ có sản xuất chứ không có tiêu dùng). Dưới đây, với tư cách cá nhân chủ quan, người viết xin góp bàn ngắn gọn mấy vấn đề vừa nêu để tác phẩm “văn hóa nghệ thuật” tỉnh nhà không ngừng đổi mới và phát triển.

1.1. Trước hết là vai trò của lý luận nghệ thuật (nghệ thuật gồm nhiều loại hình khác nhau: hội họa, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh…, ở đây chỉ bàn về vấn đề chung nhất, không đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể), đó là hệ thống các nguyên tắc về tư tưởng, nghệ thuật định hướng quá trình sáng tác và đón nhận nghệ thuật. Thiếu điều này, đời sống nghệ thuật sẽ rơi vào tình huống “thấy rừng mà không thấy cây”, đứng trước mênh mông sông nước mà không biết trôi dạt về đâu

“Thuyền bơi có lái qua mưa gió                   

Không lái thuyền trôi dạt bến bờ”

(Tố Hữu)

Lý luận nghệ thuật bao giờ cũng gắn với đặc trưng của từng loại thể, thể loại và hình thức thể loại cụ thể, nó đã được nói rõ trong quá trình lý luận chuyên ngành tại các trường Cao đẳng, Đại học dùng đào tạo sinh viên với một nghề cụ thể khi ra trường. Điều này xin không nhắc lại ở đây mà chỉ trao đổi mấy vấn đề lý luận nghệ thuật dưới ánh sáng đường lối văn hóa, nghệ thuật của Đảng, đã được cụ thể hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh và được các nhà lý luận, các chuyên gia hệ thống hóa thành những luận điểm cơ bản sau đây:

- Văn nghệ là mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm nghệ thuật là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.

Tư tưởng này của Bác nói cách đây đúng 70 năm, xin được trích lại nguyên văn:

“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm lại là phải đặt vấn đề lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. (Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951 – Hồ Chí Minh “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận”, Nhà xuất bản văn học Hà Nội – 1981, trang 349).

Quan điểm này của Người đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp ngày càng đông đảo văn nghệ sĩ vào một mặt trận, làm cho họ trở thành những chiến sĩ chiến đấu bằng vũ khí sắc bén của mình theo tinh thần:

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

- Văn nghệ phải gắn với đời sống thực tiễn của nhân dân.

Chỉ có thực tiễn đời sống nhân dân mới đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghệ. Văn nghệ vừa phản ánh thực tiễn ấy vừa hướng cho nhân dân thúc đẩy sự phát triển thực tiễn theo quy luật của cái đẹp.

- Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và dân tộc. Phải phản ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, ngày 01/12/1962, Bác đã nói với văn nghệ sĩ: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta”. Ở đây cần làm rõ hai điểm mà Bác rất chú ý đối với văn nghệ sĩ.

Một là, tác phẩm phải phục vụ quần chúng nhân dân đông đảo, được quần chúng yêu thích, đem lại những chuyển biến tích cực trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mọi người.

Hai là, văn nghệ phục vụ quần chúng không có nghĩa là hạ thấp nghệ thuật, không phải là cung cấp cho họ những sản phẩm “loại hai”, những món ăn tinh thần được chế biến vội vàng, mà phải là tác phẩm có tính nghệ thuật cao.

Ngày nay, đọc lại những tư tưởng và nghệ thuật trên đây của Bác ta thấy nó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới của đất nước hôm nay, trong đó có sự nghiệp văn học nghệ thuật.

1.2. Còn đối với phê bình nghệ thuật tưởng đơn giản nhưng lại là mảnh đất “lắm người nhiều ma” của giới nghệ sĩ và nhà phê bình. Bởi vì ở đâu có sáng tạo nghệ thuật thì ở đó có hoạt động tiếp nhận, giống như có sản xuất tất có sự tiêu dùng sản phẩm. Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại tiếp nhận nghệ thuật nào cũng có thể gọi là phê bình. Người tiếp nhận nghệ thuật chỉ thực sự trở thành nhà phê bình khi hoạt động nghề nghiệp của anh ta là nhân tố tác động tích cực vào quá trình sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật. Sự tác động này thể hiện trên các bình diện sau:

- Phê bình tác động tới sự thụ cảm thế giới của nghệ sĩ, gợi mở hệ thống đề tài, đặt ra những vấn đề triết lý nhân sinh - xã hội bức thiết. Đôi khi mối quan hệ này cũng xảy ra những ý kiến rất cực đoan: nghệ sĩ thì cho nhà phê bình là loại “nhà văn không thành đạt”, là “kẻ không thể trở thành nhà văn”; “khi những kẻ ngu ngốc xét đoán những người thông thái thì gọi là phê bình”. Ngược lại, nhiều nhà phê bình gọi nhà văn là “loại người không bao giờ lớn, đủ khôn để có thể xét đoán theo kiểu phê bình”,…

Vậy thực chất của phê bình là gì? Đó là tạo nên sự giám sát của xã hội đối với hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ. Xem những cuộc luận chiến gần đây trên các phương tiện truyền thông sẽ rõ.

- Phê bình có ảnh hưởng tới quá trình sáng tạo ra tác phẩm. Bởi vì, khi phân tích tác phẩm, phê bình thường quan tâm đến phương diện tâm lý sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cũng không bỏ qua các vấn đề…(?) kỹ thuật sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật.

- Phê bình còn tác động trực tiếp tới tác phẩm, mang lại cho tác phẩm một số phận lịch sử, làm cho các kiệt tác không ngừng lớn lên cùng với thời gian. (Ví dụ: Thề non nước của Tản Đà, Đêm tàn của Chế Lan Viên, Tràng giang của Huy Cận,…).

- Phê bình có tác động giáo dục đối với người đọc. Mỗi nhà phê bình là một cây bút chính luận, vừa có tư tưởng vững vàng vừa biết cách tạo ra sự “lây lan”, tuyên truyền cho người đọc, người nghe, người xem… những quan điểm ấy.

- Cuối cùng phê bình có tác động đối với hiện thực đời sống.

2. Văn học và nhà trường - món nợ đối với thế hệ trẻ học đường.

2.1. Tính chất và vị trí môn Ngữ văn đã được Bộ GD-ĐT xác định cụ thể trong chường trình giáo dục phổ thông mới đang thực hiện ở cả 3 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ngoài những kỹ năng đọc, viết, nghe, nói, nó còn giúp hình thành ở học sinh năng lực tinh thần và nhân cách sống. Khả năng của môn Ngữ văn xuất phát từ tính chất và đặc trưng của môn học quy định.

- Trước hết, văn gắn với ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, phổ biến nhất, là hình thức phức tạp nhất của tư duy, của tồn tại. Dạy văn bao gồm cả dạy tiếng và dạy văn học, là công cụ hết sức quan trọng để phát triển năng lực giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói) từ đó phát triển năng lực tác dụng của học sinh.

- Thứ hai, môn văn là nơi bảo tồn, chứa đựng tập trung nhất kinh nghiệm sống và các giá trị chân lý và sự tìm kiếm chân lý, đạo lý và sự trăn trở lương tâm, cái đẹp và tình yêu cái đẹp.

2.2. Mục tiêu quan trọng nhất của môn Ngữ văn trong nhà trường là phát triển năng lực văn ở học sinh, đó là kỹ năng và năng lực tư duy qua môn học.

- Dạy văn trước hết là dạy kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó đọc và viết là quan trọng nhất.

- Năng lực cảm nhận thế giới thông qua các giác quan thẩm mỹ cũng là phẩm chất quan trọng cần bồi dưỡng cho người đọc, người học.

- Phát triển năng lực văn chương cũng là phát triển năng lực người, tức vấn đề về giá trị, vấn đề làm người.

Trên đây là mấy vấn đề cơ bản của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện hành ở 3 cấp học. Nắm được tinh thần cơ bản này để xác lập mối quan hệ của các hoạt động văn học nghệ thuật của Liên hiệp Hội VHNT nói chung và Chi hội Văn học nói riêng. Với nhà trường phổ thông thời gian tới là yêu cầu tất yếu của hai lĩnh vực này. Trong khuôn khổ bài viết và hiểu biết còn hạn hẹp, người viết xin đề xuất mấy giải pháp sau:

- Mở các cuộc thi sáng tác theo chủ đề các ngày lễ lớn, các sự kiện, các ngày kỷ niệm trong năm để mọi người cùng tham gia. Khi sản phẩm dự thi được phổ biến rộng rãi sẽ có một lực lượng công chúng phong phú, đa dạng và nguồn dư luận (qua trang lý luận, phê bình) vô cùng hấp dẫn.

- Tổ chức các cuộc thi bình văn, thơ, các tác phẩm trong nhà trường để kích thích hứng thú văn học của học sinh nhằm góp phần khắc phục tình trạng chán học môn Ngữ văn ở các em.

Thứ hai là xem xét, nghiên cứu tham mưu lãnh đạo cấp trên nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý Liên hiệp các Hội VHNT phối hợp với Báo Bạc Liêu, Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Bạc Liêu và ngành giáo dục xuất bản phụ chương “Văn học và nhà trường” tạo sân chơi bổ ích làm cho đời sống văn học tỉnh nhà thêm phong phú, lành mạnh, đem lại giá trị nhân văn trong môi trường giáo dục.

3. Từ những điều trao đổi trên đây, thiết nghĩ thời gian tới cần đổi mới nội dung, hình thức và cấu trúc của tạp chí nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân tỉnh nhà dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

Đỗ Tấn Lực (Chi hội Văn học)

Số lượt xem: 42

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh
 
CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ LIÊN HIỆP CÁC HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Ban Biên tập cổng thông tin điện tử Liên hiệp các Hội VHNT tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: Đường 30/4, Phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 07813. 824570. Fax: 07813.824569